Quyển Sách Rừng Xanh/Mowgli Người Sói (The Jungle Book) – Rudyard Kipling

Trong những trang viết của mình, Pauxtovski đã nhắc đến Rudyard Kipling, bên cạnh những Honore de Balzac, Marxim Gorki hay Hans Christian Andersen.

Đọc Quyển sách Rừng Xanh (The Jungle Book), tác phẩm nổi tiếng nhất của Kipling, người đoạt giải Nobel văn chương năm 1907, ta sẽ hiểu vì sao có sự đánh giá trân trọng này.

Ở Việt Nam, người ta đã tập hợp các truyện ngắn về Mowgli trong Quyển Sách Rừng Xanh để in thành một quyển riêng, lấy tên khá “kêu”: Mowgli Người Sói. Mowgli Người Sói được xuất bản vào thời hầu như tất cả các tác phẩm nổi tiếng ở Việt Nam đều được in bằng một thứ giấy vàng ố có khả năng chuyển dần sang đen tuyền theo năm tháng, vào thời kỳ mà lỗi chính tả là một thứ của hiếm rất khó gặp trên trang in, vào thời kỳ mà mỗi dịch giả dường như hoá thân thành một tác giả thứ hai của tác phẩm, cùng sống, cùng hít thở, cùng cảm nhận không khí và thời đại mà các nhân vật của tác phẩm đang sống. Trên mỗi trang dịch, mỗi câu chữ, người đọc dường như đều cảm thấy rõ công phu và tình cảm của tác giả chảy tràn, gửi gắm.

Ngày nay, cho dù ngay ở những quyển sách dịch được in ấn công phu về mọi mặt (chỉ trừ việc soát lỗi chính tả), được làm cho nổi đình đám trên mạng trước khi ấn bản, hoặc được làm cho nổi đình đám hơn nữa sau khi xuất bản, ta cũng khó lòng bắt gặp những cảm xúc như thế.

Các nhà làm sách ở Việt Nam có lẽ không cần quan tâm gì đến vấn đề bản quyền và toàn vẹn tác phẩm khi rút trích riêng các truyện về Mowgli một cách tự tiện như vậy. Nhưng họ có cái lý của họ. Khi đọc Quyển sách Rừng Xanh, phần I hay phần II, ta chỉ dường như muốn lật nhanh các trang sách đến các truyện về Mowgli. Mowgli, hay đúng hơn là thế giới của Mowgli, chính là linh hồn, là tinh thần của Rừng Xanh Ấn Độ mà Kipling muốn chuyển tải cho người đọc.

Với cốt truyện là một chú bé loài Người lạc loài trong rừng thẳm, cùng sống và cùng đấu tranh sinh tồn với các loài thú để trở thành Chúa Rừng, con người của Mowgli và Rừng của Mowgli có gì khác và có gì hơn so với con người và Rừng của một Chúa Rừng khác, không kém, nếu không muốn nói là hơn, phần nổi tiếng: Tarzan?

Rừng của Mowgli chứa đầy bởi những Khẩu Quyết (Master-word), những lời chúc Cuộc Săn Tốt Lành (Good Hunting), về Bầy (Pack) và Giống Nòi Tự Do (Free People). Đó là khu rừng của luật lệ và của những bài học thiên nhiên, của một thế giới hoang dã được mô tả một cách phi-hoang-dã. So với Rừng của Tarzan, Rừng của Mowgli nhiều nhạc tính của tưởng tượng hơn và bí ẩn hơn, và đồng thời gần gũi hơn và dễ cảm nhận hơn. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà nghiên cứu đã cho rằng Kipling mượn những câu chuyện về Rừng để đưa ra góc nhìn riêng của mình về thế giới loài người ông đang sống.

Và so với con người của Tarzan, con người của Mowgli đã có một sự khác biệt quan trọng: con người của Mowgli đã trở về với thế giới của con người, tự nguyện trong thôi thúc, không có lý do nhưng cũng không cần giải thích. Sự trở về của Mowgli diễn ra vào Mùa Thay Giọng, khi Rừng đang xôn xao và xao xuyến trong Cơn Chạy Mùa Xuân. Sự trở về – hay đúng hơn, sự ra đi – này không khỏi gợi cho chúng ta những câu thơ đã xa về Paustovski. Đưa em đi tất cả thế xa rồi. Ta đã lớn và Paustovski đã chết…

 

Trong những truyện còn lại của Quyển Sách Rừng Xanh, nổi tiếng nhất là câu chuyện về chú chồn anh hùng Rikki-Tikki-Tavi. Câu truyện này đã được dịch ra tiếng Việt, cũng được xuất bản vào cái thời mà sách đen chữ xấu, cái thời mà việc dịch văn mang tính cảm xúc nhiều hơn vật chất. Chỉ có điều, “họ” – vì không thể biết đích xác là ai – đã cắt bỏ những bài hát cuối truyện. Hầu như mỗi nhân vật của Kipling đều có một bài hát riêng của mình. Nhưng có lẽ “họ” cảm thấy không cần thiết phải tốn thêm vài trang giấy cho những thứ khó nhằn và ít liên quan như thế ở thời kỳ gạo châu củi quế. Duckprocracornra Âu cũng là hợp lý, hoặc ít nhất là có lý.

Chỉ có điều, trong số những thứ được truyền tải qua những trang sách, bên cạnh tình tiết xây nên cốt truyện, những dòng chảy thành luồng tư tưởng, những câu chữ nối mạch thành văn chương, những góc nhìn tạo nên nhân sinh quan, những bức tranh tả cảnh để tả tình, vẫn còn có một thứ góp phần quan trọng tạo nên hơi thở của độc giả.

Đó là văn hoá.

[bản tiếng Việt] — [bản tiếng Anh