Category Archives: Khó phân loại

Người đàn bà Pari (The Woman of Paris) – Charlie Chaplin

Mới đọc tựa bài chắc có bạn sẽ nghĩ: hóa ra cũng có ông nhà văn nào trùng tên với “Vua Hề” à. Xin thưa: không, đó chính là Charlie Chaplin nhà làm phim vĩ đại. Và cuốn sách này thật ra là kịch bản vài tác phẩm điện ảnh của ông.

Chính vì vậy, gọi đây là “truyện hay” sẽ không chính xác, và có lẽ cuốn sách này cũng hơi khó đọc, bởi nó được viết theo dạng kịch bản phim. Các sự kiện lần lượt xảy ra, câu chuyện là sự mô tả hành động và lời nói của các nhân vật. Không có diễn biến nội tâm được kể bằng từ ngữ. Không có những câu văn bay bổng, không có những đoạn tả cảnh dài. Và có lẽ, cũng sẽ ít ai cố công ngồi đọc vì những gì được kể trong cuốn sách kia đã quá quen thuộc: đó chính là những bộ phim nổi tiếng của Charlie Chaplin mà hẳn ai cũng từng xem.

Bản tiếng Việt (dịch giả Tô Thi, NXB Văn Nghệ TP.HCM, 1985) gồm bốn kịch bản:

  • Người đàn bà Pari
  • Thời đại mới
  • Mexừ Vécđu
  • Kẻ độc tài vĩ đại

Với những ai mê xem phim Sạc-lô thì đây cũng là cơ hội để tìm hiểu xem cách Charlie Chaplin đã viết kịch bản như thế nào. Mặc dù không có những ngôn từ làm lay động lòng người, nhưng những gì được kể trong từng câu chuyện ấy vẫn luôn làm chúng ta xúc động. Số phận con người, bi kịch của xã hội và của cá nhân, hơi thở của thời đại mà nó đang kể lại, tất cả đều hiện diện và sống động một cách tinh tế.

Quỷ Dữ Và Nàng Prym (O Demônio e a srta Prym / The Devil and Miss Prym) – Paulo Coelho

Paulo Coelho là tác giả khá nổi tiếng hiện nay trên văn đàn quốc tế, và những tác phẩm của ông dù có tuổi đời chưa quá lâu vẫn được dịch và xuất bản trên toàn thế giới. Trên ConMotSach.com trước đây đã có bài giới thiệu cuốn Nhà Giả Kim.

Quỷ Dữ Và Nàng Prym là truyện có nội dung đơn giản nhưng khá lạ. Có vẻ nó thích hợp nhiều với những ai ưa chiêm nghiệm. Theo tôi, khó có thể dùng cuốn sách này để giải trí, dù nó vẫn có những đoạn hay cấn, những chi tiết lôi cuốn người đọc theo dõi cho đến hết. Câu chuyện đặt ra câu hỏi về cái thiện – cái ác trong từng cá nhân, trong cộng đồng, về những đánh đổi và trả giá.

Một người đàn ông lạ mặt tìm đến làng Viscos xa xôi hẻo lánh để làm một chuyện kỳ quặc và điên khùng: hứa thưởng vàng cho dân làng nếu họ chịu phạm tội thật kinh khủng: giết người. Cô hầu bàn Chantal Prym vô tình trở thành người đưa tin bất đắc dĩ cho việc này. Một cuộc chiến giữa tốt – xấu đã diễn ra kịch liệt trong lòng cô gái trẻ xinh đẹp vốn đang chán nản cuộc sống buồn tẻ của chính mình. Bà già Berta, người ngồi canh chừng gần 50 năm ngày mà quỷ dữ sẽ đến Viscos, lại trở thành nạn nhân của lòng tham của dân làng. Nội dung câu chuyện có vẻ không thật, bối cảnh buồn tẻ và hơi u ám. Không có nhiều nhân vật, không có nhiều hành động, cái chính diễn ra chính là sự giằng xé và lựa chọn của các nhân vật và cả của người đọc. Càng về cuối câu chuyện càng dẫn đến cao trào khiến ta muốn biết tác giả dẫn dắt đến đâu.

Theo tôi đây là một cuốn sách không khó đọc nhưng cũng không… dễ thích. Sức sống của nó có lẽ cần thêm thời gian để khẳng định, nhưng những băn khoăn và thông điệp của nó rất hữu ích trong đời sống công nghiệp hối hả hiện nay.

Bản tiếng Việt của dịch giả Ngọc Phương Trang, do NXB Phụ Nữ phát hành.

Tham khảo bản tiếng Tây Ban Nha: http://www.ConMotSach.com/books/o_demonio_e_srta_prym.pdf 

Tham khảo bản tiếng Anh: http://www.ConMotSach.com/books/the_devil_and_miss_prym.prc  

Tham khảo bản tiếng Việt: http://www.ConMotSach.com/books/quy_du_va_nang_prym.prc

Phía nam biên giới, phía tây mặt trời (South of the Border, West of the Sun) – Haruki Murakami

Một câu chuyện không chỉ đơn giản là về giai đoạn khủng hoảng (mid-life crisis) của một người đàn ông: thành đạt và hạnh phúc; một câu chuyện không chỉ đơn giản là hoài niệm về một tình bạn lúc thuở nhỏ mà hơn thế, đó là câu chuyện về nỗi cô đơn của mỗi con người, một câu chuyện của sự trống vắng mà không phải ai, nỗ lực nào cũng có thể lấp.

“Nghe này, Hajime, thật là đáng tiếc nhưng một số điều không thể trở ngược về sau được. Một khi đã đi về phía trước, thì dù có nỗ lực đến mức nào, người ta cũng không thể quay lại đằng sau. Khi đã có một chi tiết dù là rất nhỏ bị lỏng ra, tức khắc mọi thứ sẽ đứng im, và mãi mãi nằm im như thế.”
Có thể nói, trong tác phẩm này có những đoạn miêu tả nội tâm mà có lẽ, còn xuất sắc hơn ở “Rừng Nauy”, “Xứ sở kỳ diệu tàn bạo và Chốn tận cùng thế giới” hay các truyện ngắn khác của ông… (Còn 2 quyển vĩ đại nhất của H.M là “Kafka bên bờ biển” và Biên niên ký chim vặn dây cót” thì chưa đọc nên không tính). Một câu chuyện của sự cô đơn, nỗi cô đơn bậc nhất mà một nhà văn có thể miêu tả. Đọc nó, và tự hỏi không biết là liệu đã bao giờ tác giả cảm thấy đầy đủ những nỗi hoang vắng đến thế, khát khao đến thế của Hajime:
“Nhưng trên thực tế, tôi không có khả năng: ảo ảnh vẫn còn ở đó, nó buộc chặt lấy tôi. Những ngày mưa thì còn tệ hơn nữa. Bởi vì, khi trời mưa, tôi bị đắm chìm trong ảo tưởng Shimamoto-san sẽ xuất hiện vào bất cứ lúc nào. Nàng sẽ mở cửa, mang theo cùng nàng mùi của cơn mưa. Tôi tưởng tượng ra nụ cười trên môi nàng. Khi không đồng ý với tôi, nàng nhẹ nhàng lắc đầu, nụ cười vẫn nguyên ở đó. Khi ấy từ ngữ của tôi mất đi toàn bộ sức lực và, như những giọt nước mưa đậu trên ô cửa sổ, chầm chậm trượt ra khỏi địa hạt của thực tại. Những đêm trời mưa, lúc nào tôi cũng thấy nghẹt thở. Thực tại bị bóp méo, thực tại lồng lên sợ hãi”…

Những cơn ác mộng ấy, những nỗi sợ hãi và ảo tưởng ấy sẽ kéo dài đến bao giờ nếu như không phải một ngày Hajime bất ngờ gặp lại Izumi với khuôn mặt không biểu cảm, “tất cả đều chết và lặng tờ như đáy đại dương”? Cũng giống như con người ta sẽ sống hoàn tòan một cuộc sống khác sau một lần suýt chết, và có lẽ, việc gặp lại Izumi cũng giống như việc gặp cái chết của Hajime. Nó đánh thức trong anh sự sống, tiềm thức sống. Nhưng liệu chăng đấy có phải cú hích đủ manh, nếu như Yukiko không thổ lộ về giấc mơ của cô? Câu chuyện kết thúc, để khiến ta băn khoăn mà tự hỏi rằng liệu cơn mơ có còn chăng? Ít nhất, thời gian hãy còn tồn tại. Và anh, dù rằng sau hơn 2 thập kỉ, anh vẫn không có gì khác hơn 1 cậu bé 12 tuổi: “được nuông chiều quá mức, yếu đuối, và thất thường đến khủng khiếp”.
Còn một điều nữa của quyển sách này, ấy là những giai điệu dặt dìu trong các bài hát của Nat King Cole – những âm hưởng ám ảnh, tuyệt vời này đã làm nên xương sườn và sức sống của quyển sách này. Chúng không những đưa Hajime và Shimamoto-san đến với nhau và mà còn đưa người đọc vào câu chuyện tình không-thể-cứu-thoát nổi ấy.

Bổ sung của ConMotSach.com:

Bản tiếng Việt: http://www.ConMotSach.com/books/phia_nam_bien_gioi_phia_tay_mat_troi.prc

Chốn Xưa – Lý Nhuệ (Li Rui)

Có l khi nhc đến văn hc đương đi Trung Quc, Dư Hoa, Mc Ngôn, V Tu là những tác giả được nhiều bạn đọc Việt Nam biết đến vi nhng đu sách ph biến. Tuy nhiên, với hàng loạt tác phẩm lấy chủ đề tái hiện lịch sử, Lý Nhuệ được giới văn học đánh giá là một trong những cột trụ lớn nhất của văn học Trung Quốc đương đại.

Theo đó, “Chốn xưa” là một tác phẩm khi Lý Nhuệ hoàn thành xong đã khng đnh ba điu. Th nht đây không phi là tiu thuyết s thi. Th hai, trong tác phm không có anh hùng. Th ba tác phm không đưc viết bng phương pháp hin thc truyn thng.

Qu tht, xuyên sut tác phm này, cm giác mi mt s phn con ngưi, cao sang hay hèn mn đu quay cung và cun cun theo dòng chy ca cái gi là “Lch s“.  Nhng lát ct thi gian trong tác phm khiến người đọc day dt và ám nh. Trong cùng mt thi đim, nhng con ngưi cùng mang h Lý li có nhng khonh khc đnh mnh khác nhau mà nếu ch nhìn mt góc đ cc đoan nht ca thi đi, không bao gi có th lý gii đưc. Và trên hết là ni bun sâu sc v nhng trang s đưc viết bng máu và nưc mt.

Xung quanh tác phm này, đã có nhiu li bình lun t nhiu ngun khác nhau và mi ngưi đu có cm nhn riêng của mình. Nhưng qu thc, đây là mt tác phm đáng đ đc. Đc xong “”Chốn xưa””nếu vẫn muốn cùng vi Lý Nhu đi tiếp cuc hành trình khai thác nhng khía cnh mi m v Con Ngưi đưc khc ha t hình bóng lch s hào hùng và khc lit của Trung Hoa thì cũng không nên bỏ qua  “Ngân Thành cố sự”, một tác phẩm mà theo Lý Nhuệ là hơn hẳn “Chốn xưa”.

Kafka bên bờ biển (海辺のカフカ /Kafka on the Shore) – 村上春樹 (Haruki Murakami)

Tôi đọc Haruki Murakami một mạch hai cuốn, đầu tiên là Biên niên ký chim vặn giây cót  mà tôi đã giới thiệu, tiếp theo chính là Kafka bên bờ biển, bản dịch của Dương Tường.

Cũng như cảm giác khi đọc cuốn trước, lần này tôi cũng… không thích lắm, với cùng một lý do: yếu tố siêu hình hơi nhiều. Nhưng đây là tác phẩm đạt giải thưởng văn học Franz Kafka, và được khen ngợi ở nhiều nước, nên có lẽ bạn đọc sẽ không thất vọng với nó. Bản thân tôi vẫn tự cho rằng Rừng Nauy xuất sắc hơn.

Cuốn sách có hai tuyến truyện khác nhau, lần lượt đan xen cho đến gần cuối truyện thì có sự giao thoa. Một tuyến là chuyện kể của cậu bé 15 tuổi Kafka Tamura, ám ảnh bởi sự lìa xa của mẹ và chị gái, bởi lời nguyền của người cha (giống hệt “mặc cảm Oedipus” – mày sẽ giết cha và ngủ với mẹ), đã bỏ nhà đi. Tuyến thứ hai kể về ông già kỳ lạ Satoru Nakata, biết nói chuyện với mèo, không biết đọc và có thể tạo ra những chuyện lạ lùng như cơn mưa cá…

Những nhân vật khác, có vẻ “hiện thực” hơn, là Miss Saeki và Oshima làm việc ở thư viện, hay Sakura  – cô gái giúp đỡ Kafka, tạo nên những mắc xích khác khiến câu chuyện “dường như” đi dần vào quỹ đạo của lời nguyền. Nói “dường như” là vì tác giả không tạo ra khẳng dịnh nào cả, chỉ là những giả định của nhân vật hoặc người đọc. Bên cạnh đó, còn có những nhân vật huyền bí như Johnnie Walker (giống tên loại rượu), Colonel Sanders (giống tên người sáng lập chuỗi KFC), và những con mèo Goma, Mimi, Okawa,.. tạo cho câu chuyện những tình huống phi lý, huyễn hoặc.

Tôi thích truyện khoa học giả tưởng như của J.Verne hay A.Belyaev, thích truyện tưởng tượng như Harry Potter; nhưng vẫn chưa mê được loại siêu thực của Haruki Murakami. Hay có lẽ cần thêm tuổi đời và trải nghiệm, cũng như thêm kinh nghiệm đọc sách?

Sẽ khó mà tóm tắt cốt truyện của Kafka bên bờ biển, bởi cái nổi bật của tác phẩm là diễn biến nội tâm của nhân vật, của những thông điệp chìm ẩn trong các biến cố kỳ dị và lạ thường. Bản ngã con người, được nhà văn thể hiện thông qua nhiều phương cách. Dù vậy, tôi có cảm giác hình như tác giả cũng chưa có ý đưa ra một thông điệp giải quyết vấn đề gì, mà chỉ nêu ra những tồn tại trong tâm hồn & tiềm thức của những con người sống trong xã hội hiện đại với vòng xoáy kinh khủng của nền công nghiệp.

Điều lớn mà tôi nhận thấy qua tác phẩm này chính là sự cô đơn, bế tắc của con người trong con đường đi tìm bản chất của mình. Điều này cũng có trong Rừng Nauy, nhưng ở đó là cô đơn của lớp trẻ; còn ở đây, là sự cô đơn toàn diện, cô đơn ngay cả trong gia đình, hàng xóm, cô đơn với quá khứ và tương lai.

Một câu hỏi thêm, phải chăng những tác phẩm lớn hầu như đều bi kịch? Và, những cuốn sách ấy, chúng ta càng thấm nhiều hơn khi đọc đi đọc lại?

Tải bản tiếng Việt tại: http://conmotsach.com/books/kafka_ben_bo_bien.prc

Trăm năm cô đơn (Cien Años de Soledad/100 Years of Solitude) – Gabriel Garcia Marquez

Cũng giống như những tựa đề “Dracula”, “Kỵ sỹ không đầu”,… tên sách “Trăm năm cô đơn” hẳn ai cũng từng nghe, còn thật sự đọc cuốn tiểu thuyết này thì chưa chắc. Tôi tình cờ đọc cuốn này khi còn đi học, và không thấm hết được, nhưng nhờ vậy, sau này tôi mới đọc lại (chắc vẫn chưa thấm hết được) và thấy quả thật đây là tác phẩm kinh điển và đồ sộ.

Khi in cuốn sách này, nhà xuất bản nào cũng phải cẩn thận kèm theo một bản sơ đồ phả hệ của các nhân vật, vốn trùng tên và rối rắm, để người đọc có thể theo dõi được. Các đời tiếp nối nhau của một dòng họ, với những biến cố riêng của từng thế hệ, đã tạo nên cốt truyện. Nhưng đó không phải là tất cả. Trăm năm cô đơn không phải là câu chuyện buồn thảm về một dòng họ; mà là một phần bức tranh xã hội với những bất hạnh khiến con người trở nên cô đơn hơn bao giờ hết, khiến những gia đình tự cô lập mình với bên ngoài hơn bao giờ hết.

Tôi chọn đọc tác phẩm này vì tò mò: nó đạt giải Nobel Văn chương năm 1982. Không thể phủ nhận đây là một cuốn sách hay, nhiều giá trị. Nhưng quả thật, cái không khí của nó đôi chỗ làm tôi hơi ngột ngạt, nặng nề. Không phải là một tiểu thuyết để đọc giải trí, không thể là tác phẩm để độc giả giết thời gian. Nói cách khác, đây là một tiểu thuyết xuất sắc, nhưng đọc nó sẽ khá mệt. Khi có thời gian để nghiền ngẫm và tư lự, nhưng không phải lúc đang chán chường hay… thất tình, hãy đọc Trăm năm cô đơn.

Tải bản tiếng Việt (prc) tại: http://conmotsach.com/books/tram_nam_co_don.prc 

Tải bản tiếng Anh (prc) tại: http://conmotsach.com/books/one_hundred_years_of_solitude.prc

Tải bản gốc tiếng Tây Ban Nha (pdf) tại:  http://conmotsach.com/books/100soledad.pdf

Đaghextan của tôi (Мой Дагестан/My Daghestan) – Расул Гамзатов (Rasul Gamzatov)

Tình yêu tôi như cây tiêu huyền hai nhánh
Một ánh vừa khô thì một nhánh đâm chồi
Tình yêu tôi như chim đại bàng hai cánh
Một cánh sải dài khi một cánh khép hờ thôi!

Trong ngực tôi, hai vết thương nhức nhối
Một vết còn đau khi một vết liền da
Và cứ thế, suốt cuộc đời bất tận
Niềm vui với nỗi buồn, từng phút nối nhau qua!

Đây là một bài thơ trích từ tác phẩm “Đaghextan của tôi”, tác giả Rasul Gamzatov, NXB Cầu Vồng, do Bằng Việt dich.

Đã từ lâu, đối với những người yêu thích văn học Nga, cái tên Bằng Việt đã là một thương hiêu. Thương hiệu cho chất lượng dịch và thương hiệu cho tác phẩm.

Còn cái tên Rasul Gamzatov (РАСУЛ ГАМЗАТОВ 1923-2003) thì còn hơn cả một thương hiệu. Đó là một biểu tượng, một huyền thoại. Về danh hiệu chính thức thì ông được gọi là một nhà thơ nhân dân. Về danh hiệu không chính thức thì ông được coi là một đại bàng, một biểu tượng để tất cả những người đàn ông ở miền Đaghextan vươn tới.

Ông là một nhà thơ, thế nhưng có lẽ tác phẩm nổi tiếng nhất của ông lại là một tác phẩm văn xuôi “Đaghextan của tôi” (Мой Дагестан). Giống như tác phẩm “Hoàng tử bé”, rất khó để đánh giá “Đaghextan của tôi” thuộc thể loại gì. Và hầu như mọi người đều đồng ý với sự đánh giá giản dị này “Đó là tác phẩm văn xuôi của một nhà thơ”. Một bài thơ viết bằng văn xuôi mà ta không thể dừng lại nếu đã bắt đầu đọc trang đầu cho đến khi ta kết thúc ở trang cuối. Tất cả trôi qua trong tâm tưởng như một dòng thác. Dân tộc, lịch sử, vinh quang, lý tưởng, niềm tin, các câu chuyện ẩn dụ, những dòng thơ đan chảy. Và có lẽ khi gấp sách, chỉ còn đọng lại một cái tên, Đaghextan. Và một con người, Rasul Gamzatov.

Và hãy đọc cuốn sách này như thưởng thức một bài thơ!

Bổ sung của Trần Anh Khôi:

Tham khảo bản tiếng Nga: http://www.gamzatov.ru/daghestan.html

Tham khảo bản tiếng Anh: http://www.gamzatov.ru/mydageng.htm (Julius Katzer dịch)

Bản dịch hình như là của Phan Hồng Giang, phần thơ của Bằng Việt.

Suối Nguồn (The Fountainhead) – Ayn Rand

Suối Nguồn (The Fountainhead), tiểu thuyết của Ayn Rand. Nhóm dịch: Vũ Lan Anh, Đinh Quang Hiếu, Vũ Hoàng Linh, Nguyễn Kim Ngọc, Trần Thị Hà Thủy. Hiệu đính: Phan Việt. NXB Trẻ, 2007

[nguồn: Nguyễn Trương Quý, báo Thể thao văn hoá, 22/12/2007]

“Suối Nguồn” – chiến thắng hả hê của sáng tạo

Sáng tạo là một từ quá hoa mỹ và có vẻ bị lạm dụng trong thế kỷ vừa qua, thế kỷ mà tất cả các giá trị nghệ thuật của vài ngàn năm trước bị đặt lên bàn cân và xét lại không thương tiếc. Tuy nhiên, người ta vẫn phải nói đến sáng tạo. Nó là một điều không thể phớt lờ hay có thể nói dối. Cho đến đầu thế kỷ mới này, sáng tạo không còn là mối bận tâm của riêng người nghệ sĩ, nó là ý thức về sự tồn tại của nhân loại.

“Suối Nguồn” (The Fountainhead) của nữ văn sĩ Mỹ gốc Nga Ayn Rand xuất bản lần đầu năm 1943 đã vượt qua hình thức của một tiểu thuyết văn học ly kỳ gay cấn, trở thành một tác phẩm kinh điển chứa đựng những thông điệp cơ bản nhất về thiên chức của người nghệ sĩ, về tự do cá nhân trong quan hệ với cộng đồng, về cả những giá trị tinh thần vốn dĩ được các thiết chế xã hội đề cao.

Song Ayn Rand với giọng văn sắc bén, với quan điểm thực tế mà bà gọi là “vị thân” – đề cao cái tôi sáng tạo trong hoàn cảnh đám đông a dua theo thời thượng, đã xô đổ những giáo điều sáo rỗng đầy độc hại núp bóng sau những lập luận bảo thủ và mị dân. Một bức tranh điển hình của một xã hội công nghiệp đang lên như diều gặp gió là mảnh đất màu mỡ cho câu chuyện đầy hấp dẫn của Ayn Rand. Trong 60 năm qua, “Suối Nguồn” đã bán được 6 triệu bản trên thế giới.

Sức hấp dẫn ấy có được là nhờ Rand đã dựng nên những nhân vật đầy ma lực của xã hội Mỹ khoảng ba chục năm đầu thế kỷ XX. Nhân vật chính là kiến trúc sư Roark Howard, một “kẻ lữ hành kỳ dị” – từ chối những danh vọng phù phiếm và những thành công nhất thời để đeo đuổi mục tiêu sáng tạo theo phong cách hiện đại của mình. Anh từ chối lối thiết kế những công trình mượn xác của hai nghìn năm kiến trúc Hy-La xưa cũ hay Rococo hào nhoáng với nhung gấm, vàng mạ và hoa văn trang trí mĩ miều bề ngoài để che phủ sự nghèo nàn của công năng. Đó lại là đường đi của Peter Keating, người nhanh chóng đáp ứng được thị hiếu của một xã hội thời thượng sẵn lòng dùng tiền để làm sống dậy quá khứ vàng son lòe loẹt của châu Âu phong kiến. Tiểu thuyết dày gần 1200 trang bản dịch còn là câu chuyện về E.Toohey, nhà phê bình nghệ thuật xu thời song thủ đoạn đến mức có khả năng hủy hoại bất cứ điều gì chệch hướng thẩm mỹ của xã hội mà ông ta đóng vai trò phát ngôn viên. Đối lập với ông ta là nhà tư bản Wynand, người gây ngạc nhiên nhất cho độc giả, từ chỗ chỉ tin vào giá trị của đồng tiền và bản thân mình, lại chia sẻ được những lý tưởng sáng tạo với Howard.

Nói “Suối Nguồn” sống động có lẽ chưa đủ, đây thực tế là một tiểu thuyết luận đề với những tuyên ngôn nghệ thuật đầy ấn tượng. Nhưng điều khiến cho “Suối Nguồn” vẫn còn được đón nhận ngày nay là sự mãnh liệt của niềm tin vào sự sáng tạo không ngừng nghỉ của con người.

 

Tham khảo bản tiếng Anh: http://www.conmotsach.com/books/the_fountainhead.prc

Tham khảo bản tiếng Việt: http://www.conmotsach.com/books/suoi_nguon_fountainhead_ayn_rand.prc