All posts by Nina_de_Rings

Bộ truyện Doraemon (ドラえもん) – Fujiko F. Fujio & Fujiko A. Fujio

Năm 2008, chính phủ Nhật Bản đã chọn Doraemon làm đại sứ hoạt hình chính thức của Nhật Bản. Thế nhưng trước đó 15 năm, danh hiệu này đã được giới thiếu nhi Việt Nam trao tặng không chính thức cho chú mèo máy thông minh kia, khi mà loạt truyện tranh Đôrêmon do NXB Kim Đồng giới thiệu đã lập tức “làm mưa làm gió” trong thị trường đọc của giới học sinh, khiến cho ngày thứ Ba – ngày có tập truyện mới phát hành, trở nên ngày được chờ đón nhiều nhất trong tuần.

 Thật ra hình ảnh Doraemon đã xuất hiện ở Việt Nam tử trước đó khoảng 10 năm, trên những mẫu decal nhỏ “tặng kèm” với những viên kẹo chewing gum xinh xẻo do Thái Lan sản xuất cũng mới vừa được giới thiệu với giới trẻ Việt Nam. Vào thời điểm đó, Doraemon và 5 anh em siêu nhân Power Rangers là những nhân vật xuất hiện nhiều nhất trên những miếng decal này. Và một cách nghiễm nhiên, những ai có chú ý đến chú mèo máy tròn vo kỳ cục này cũng cho rằng đó là một nhân vật siêu anh hùng, siêu hành động của văn hóa phương Tây.

Mãi cho đến khi cầm trên tay những cuốn truyện tranh xinh xắn và vẫn chưa có bản quyền do NXB Kim Đồng làm liều theo một cách ‘rất Việt Nam”, giới trẻ Việt Nam mới thật sự biết Doraemon và nhóm bạn học sinh Nhật Bản kia thật ra là những ai.Để rồi  gần như ngay lập tức, một cơn “Đôrêmonmania” nổ ra. Dư chấn của cơn sốt hóa rồ này vẫn còn đến ngày nay, trong tâm thức của một thế hệ mà tuổi thơ của họ đã trải qua giai đoạn mà Việt Nam đang trên đường hòa nhập vào thế giới truyện tranh thế giới, hay chính xác hơn, thế giới Manga.

Đến ngày nay, Doraemon vẫn chiếm vị trí độc tôn trong những bộ truyện tranh Nhật Bản được yêu thích nhất ở Việt Nam và trên toàn thế giới. Thật khó có thể giải thích được vì sao Doraemon được yêu mến đến thế. Một ý tưởng sáng tác độc đáo được phát triển một cách khoa học; những cốt truyện chặt chẽ được đầu tư cả về chiều sâu ý tưởng lẫn những chi tiết nhấn đắt giá; những tình tiết gay cấn hấp dẫn đan xen với những tình huống hài hước tự nhiên. Những nét vẽ điêu luyện và thậm chí sự gợi cảm cũng được trưng dùng khi cần thiết. Tất cả những điều này đều có thể tìm thấy ở những bộ truyên tranh Nhật Bản xuất sắc khác. Nhưng Doraemon vẫn khác tất cả.

Có lẽ đó là do hiệu ứng “lần đầu tiên”. Trong lần đầu tiên này, NXB Kim Đồng lại lựa chọn “sản phẩm số một” của một trong những nền văn hóa truyện tranh hàng đầu thế giới, vì vậy hiệu ứng để lại thật sâu đậm và khó mà diễn tả thành lời. Những cái tên Nôbita, Chaien và Xêkô đã trở thành một dạng tính từ mô tả những đức tính mà ai-cũng-biết-đó-là-gì. Gần đây, khi bộ Doraemon được tái bản lần mới nhất theo cách trình bày đúng như nguyên tác (truyện được in từ sau ra trước, tranh được bố cục từ trái qua phải, và do đó tránh được “hiệu ứng thuận tay trái” thường thấy ở những bộ manga dịch), các nhân vật đã được trả lại tên gốc của mình, bao gồm Nobi Nobita, Minamoto Shizuka, Goda Takeshi aka Gian, Honekawa Suneo, Dekisugi Hidetoshi,… Đó là một bước tiến về lý, khi chúng ta đã có ý thức tôn trọng nguyên tác và phải hiểu rằng thật ra không ai có quyền thay đổi tên họ, ngày tháng, sự kiện… của một tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả. Nhưng đó cũng là một bước lùi về tình, khi mà những cái tên “lạ hoắc” trên khó mà gợi lại được những cảm xúc êm đềm của những Đôrêmon, Nôbita, Xuka, Chain, Xêkô và Đêkhi đến từ quá khứ của ngày hôm qua.

Truy tìm Dracula (The Historian) – Elizabeth Kostova

Bạn có thể nói gì về một tác phẩm được viết trong vòng 10 năm  của một nữ văn sĩ chỉ mới 31 tuổi khi khởi viết, tác phẩm đã được ứng trước hai triệu đô la Mỹ nhuận bút, đã lần lượt nhận nhận các giải thưởng Hopwood (tiểu thuyết đang hoàn thành),  Quill Award (tiểu thuyết đầu tay) và Book Sense Award (tiểu thuyết xuất sắc nhất),  đã được dịch ra 28 thứ tiếng chỉ sau 3 năm kể từ lúc hoàn thành, và, tất nhiên, có tên trong danh sách No. 1 New York Times Best seller.

Chỉ một từ thôi.

Dracula.

Về mặt câu chữ, đó là một tác phẩm của Bram Stoker kể về một câu chuyện ma cà rồng kinh dị, về một nhân vật vua của tất cả những quỷ nhập tràng. Đó là những gì mà các tác phẩm dựa theo của Hollywood đã khai thác triệt để.

Nhưng nếu ta bóc những lớp vỏ ngôn từ ấy ra khỏi tác phẩm, tựa như khơi những lớp tàn tro để than hồng lộ ra ánh sáng thật của mình, ta sẽ thấy lấp lánh hiện về những quá khứ cổ xưa, những vinh quang tàn phai, những truyền thuyết sống lại, những tín ngưỡng huyền bí và nhất là vẻ đẹp của sự vĩnh cửu. Sự vĩnh cửu của cái chết và sự sống, của cái đẹp và sự rửa tàn, của sự sợ hãi và lòng dũng cảm, của sự cuồng khát điên loạn và những giá trị bất diệt.

Có lẽ giá trị lớn nhất mà tác phẩm đầu tay của Elizabeth Kostova mang lại là sự nối dài những mạch cảm xúc ấy. Lại một lần nữa người đọc được sống trong một bầu không khí huyền bí pha lẫn hiện thực đầy chất Gothic, của những khung cảnh được chấm phá đẹp nhưng buồn và ẩn tàng những điều bí ẩn đang sẵn sàng trỗi dậy. Lại một lần nữa người đọc lại được thấy quá khứ trở về trong huyền thoại và cái chết, tình yêu trỗi lên trong sợ hãi và đấu tranh, lại được thấy những con người đã sống, đã sợ, đã theo đuổi và vượt trên cái chết và những cái chưa chết.

Trên các tài liệu trên mạng, người ta đã tranh cãi về thể loại của của cuốn tiểu thuyết này. Phiêu lưu, trinh thám, tình cảm, ly kỳ. Mỗi thứ đều có một chút. Theo quan điểm cá nhân, tác phẩm là sự pha trộn giữa một đề tài nghiên cứu sử học và một tiểu thuyết hiện đại. Tác giả hẳn là đã hoặc đang theo học chương trình sau đại học ở một nơi nào đó trên thế giới. Chính vì vậy có nhiều đoạn tác giả gây cho người đọc cảm giác là đang theo dõi những đoạn sử liệu mà thiếu đi sự tự nhiên để lồng những câu chuyện dân gian vào mạch truyện một cách khéo léo và duyên dáng như bậc thầy Stoker đã làm trong tác phẩm kinh điển. Việc đưa vào những yếu tố chính trị cũng làm giảm không khí truyện đi nhiều, đặc biệt là đoạn kết – có vẻ như hơi vội vã.

Yếu tố chính trị đắt nhất có lẽ là việc nhân vật chính, trong những trang sách sau cùng, được cho biết là chết vì một quả mìn ở Sarajevo. Con người ấy đã vượt qua những thử thách sinh tử nhất với những phép màu cổ xưa của Dracula nhưng lại chấm dứt cuộc đời bởi những thứ vũ khí hiện đại nhất của đồng loại mình.

Tên tiếng Anh của tác phẩm là “The Historian.” Bản tiếng Việt dịch thành “Truy tìm Dracula”, một cái tên mang tính câu khách và kém tầm.

Bổ sung của ConMotSach.com:

Tham khảo bản tiếng Anh: http://www.ConMotSach.com/books/the_historian.prc 

Một số truyện liên quan đến Dracula:

Gió vĩnh cửu (Вечный ветер/Eternal Wind) – Сергей Жемайтис (Sergei Zhemaitis)

Tựa sách (Việt hoá): Gió vĩnh cửu.
Tác giả (Phiên âm): Xec-gây Giê-mai-chi-xơ
Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Tiến bộ Mát-xcơ-va.
Năm xuất bản: 1982.

Đó là tất cả những thông tin tôi có thể cung cấp về cuốn sách này. Không biết gì hơn về tác giả. Không có thông tin về tên gốc của tác phẩm. Thậm chí sự tồn tại hiện nay của nhà xuất bản tôi cũng không thể xác nhận.

Nếu buộc phải nói thêm điều gì đó về cuốn sách này, thì đây: Đây là một trong những tác phẩm văn học hay nhất tôi đã từng được đọc.

Cũng giống như các tác phẩm thuộc dòng văn học Nga (những truyện ngắn của Pauxtovski chẳng hạn), việc tóm tắt lại nội dung tác phẩm không nói lên gì nhiều, hay thậm chí là có phần vô nghĩa. Muốn hiểu được, muốn cảm được, muốn thấy được, chỉ có một cách. Đọc! Đọc để không khí của tác phẩm thấm vào người, để tư tưởng của tác phẩm chảy vào suy nghĩ, để hiểu được vì sao người Nga, và chắc là chỉ có người Nga, có thể yêu cuộc sống này đến thế.

“Gió vĩnh cửu” là một tác phẩm khoa học viễn tưởng. Toàn bộ các chi tiết đều không thật. Đều tưởng tượng. Truyện kể về hai sinh viên đại học thực tập tại một trạm nghiên cứu biển, về sự tiến hoá của loài đenphin (nôm na là cá heo), về bầy cá kình cướp biển Giec Đen, về Con Mực Vĩ Đại, về tình yêu vượt vũ trụ, về làn hương “Bụi Sao” mang theo một tình yêu thầm lặng vượt qua khoảng cách của các dãy Ngân Hà.

Và tất cả đều được mô tả rất thật. Rất thật để người đọc có thể cảm thấy và mơ ước mình đang được sống, được tư duy, được cảm xúc trong một cuộc sống như vậy. Cuộc sống để lao động và mến yêu, để mơ mộng và phấn đấu, cuộc sống mà mỗi niềm vui và nỗi buồn đều trong sáng.

Đưa người đọc đắm chìm trong cuộc sống như thế, để được tạm thời sống trong một thế giới như thế, phải chăng đó mới chính là mục đích đích thực của tác giả?

Rất khó để xác định “Gió vĩnh cửu” thuộc loại tác phẩm nào. Nhà xuất bản Tiến bộ Mat-xcơ-va đã phân loại quyển sách này vào loại “Chuyện tưởng tượng”.

Một thế giới đẹp như thế, phải chăng loài người chỉ có thể đạt đến bằng tưởng tượng?

Bổ sung của BQT:

Tác giả: Сергей Жемайтис (Sergei Zhemaitis) (1908-1987)

Bản tiếng Nga: http://conmotsach.com/books/eternal_wind.rtf

Đọc online (tiếng Nga): http://www.lib.ru/RUFANT/ZHEMAJTIS/veter.txt

Sách có bản tiếng Anh tựa Eternal Wind do Gladys Evans dịch. Hiện chúng tôi chưa có bản tiếng Việt & Anh.

Đaghextan của tôi (Мой Дагестан/My Daghestan) – Расул Гамзатов (Rasul Gamzatov)

Tình yêu tôi như cây tiêu huyền hai nhánh
Một ánh vừa khô thì một nhánh đâm chồi
Tình yêu tôi như chim đại bàng hai cánh
Một cánh sải dài khi một cánh khép hờ thôi!

Trong ngực tôi, hai vết thương nhức nhối
Một vết còn đau khi một vết liền da
Và cứ thế, suốt cuộc đời bất tận
Niềm vui với nỗi buồn, từng phút nối nhau qua!

Đây là một bài thơ trích từ tác phẩm “Đaghextan của tôi”, tác giả Rasul Gamzatov, NXB Cầu Vồng, do Bằng Việt dich.

Đã từ lâu, đối với những người yêu thích văn học Nga, cái tên Bằng Việt đã là một thương hiêu. Thương hiệu cho chất lượng dịch và thương hiệu cho tác phẩm.

Còn cái tên Rasul Gamzatov (РАСУЛ ГАМЗАТОВ 1923-2003) thì còn hơn cả một thương hiệu. Đó là một biểu tượng, một huyền thoại. Về danh hiệu chính thức thì ông được gọi là một nhà thơ nhân dân. Về danh hiệu không chính thức thì ông được coi là một đại bàng, một biểu tượng để tất cả những người đàn ông ở miền Đaghextan vươn tới.

Ông là một nhà thơ, thế nhưng có lẽ tác phẩm nổi tiếng nhất của ông lại là một tác phẩm văn xuôi “Đaghextan của tôi” (Мой Дагестан). Giống như tác phẩm “Hoàng tử bé”, rất khó để đánh giá “Đaghextan của tôi” thuộc thể loại gì. Và hầu như mọi người đều đồng ý với sự đánh giá giản dị này “Đó là tác phẩm văn xuôi của một nhà thơ”. Một bài thơ viết bằng văn xuôi mà ta không thể dừng lại nếu đã bắt đầu đọc trang đầu cho đến khi ta kết thúc ở trang cuối. Tất cả trôi qua trong tâm tưởng như một dòng thác. Dân tộc, lịch sử, vinh quang, lý tưởng, niềm tin, các câu chuyện ẩn dụ, những dòng thơ đan chảy. Và có lẽ khi gấp sách, chỉ còn đọng lại một cái tên, Đaghextan. Và một con người, Rasul Gamzatov.

Và hãy đọc cuốn sách này như thưởng thức một bài thơ!

Bổ sung của Trần Anh Khôi:

Tham khảo bản tiếng Nga: http://www.gamzatov.ru/daghestan.html

Tham khảo bản tiếng Anh: http://www.gamzatov.ru/mydageng.htm (Julius Katzer dịch)

Bản dịch hình như là của Phan Hồng Giang, phần thơ của Bằng Việt.

D’Artagnan’s Romances – Alexandre Dumas (cha)

Tương tự như âm nhạc, nền văn học của Pháp có đặc trưng riêng, lãng mạn và hàn lâm, cuốn hút lòng người như một thứ mật ngọt nhẹ nhàng. Một trong những văn hào nổi tiếng nhất của nền văn học Pháp là Alexandre Dumas (cha), và (những) tác phẩm nổi tiếng nhất của ông hẳn phải là D’Artagnan’s Romances.

D’Artagnan’s Romances là bộ ba tiểu thuyết trường thiên về cuộc đời của chàng ngự lâm quân DArtagnan và ba chàng lính ngự lâm thân thiết: Athos, Porthos và Aramis, hay đúng hơn về câu khẩu hiệu đã gắn kết cuộc đời và số phận của họ “Một người vì tất cả, tất cả vì một người”. Ba tiểu thuyết trên bao gồm Ba chàng lính ngự lâm, Hai mươi năm sauMười năm sau nữa. Tác phẩm cuối vì quá dài nên thường được xuất bản thành ba phần lần lượt được đặt tên Tử tước Bragelonne, Louise de la VallièreNgười mang mặt nạ sắt.

Nổi tiếng nhất, và hay nhất, trong số các truyện trên là hai tác phẩm xuất bản đầu tiên và sau cùng, Ba người lính ngự lâm và Người mang mặt nạ sắt.

Nếu như Người mang mặt nạ sắt hấp dẫn người đọc bởi tính ly kỳ của cốt truyện và sự táo bạo của Dumas khi tái hiện lịch sử theo cách ông muốn, một đặc điểm đã trở thành thương hiệu trong các tác phẩm của ông, thì tiểu thuyết này cũng đánh dấu một giai đoạn khó khăn trong cuộc đời của văn hào. Những trắc trở trong cuộc sống, những bước ngoặt về tư tưởng và nhân sinh quan từ tác giả đã ảnh hưởng đến các nhân vật trong tác phẩm của ông, tạo nên những bi kịch cho cuộc đời và số phân của những chàng ngự lâm quân.

Ngược lại, Ba người lính ngự lâm chính là tác phẩm tạo nên tình yêu và niềm cảm hứng mãnh liệt của người đọc đối với các chàng ngự lâm quân và tình bạn của họ. Tất cả những gì người ta có thể tưởng tượng và mơ ước về tuổi trẻ: tình bạn, tình yêu, lòng trung thành, sự tận tuỵ, sự mạo hiểm, tính hồn nhiên, chiến công và sai lầm, hạnh phúc và đau buồn, kỷ niệm và ký ức, sự ly kỳ của cuộc đời và số phận; tất cả đã được khắc hoạ và đưa lên thành mức chuẩn mực trong tác phẩm này. Người ta chỉ có thể đi theo chuẩn mực ấy chứ không thể viết hơn được nữa.

Alexandre Dumas là một nhà văn tham tiền, như những ai nghiên cứu về ông đều công nhận. Sự thành công của Ba chàng lính ngự lâm đã khiến ông viết tiếp những phần tiếp theo vì sức hút của lợi nhuận. Thế nhưng các nhà nghiên cứu, chẳng hạn như Keith Wren từ Khoa Văn hoá và Ngôn ngữ Châu Âu của trường Đại học Kent ở Canterbury, cũng đã chỉ ra rằng ý định ban đầu của tác giả là để cho các chàng ngự lâm quân chia tay mãi mãi khi kết thúc Ba chàng lính ngự lâm và không hề có ý định cho họ tái hợp. Điều này cũng thể hiện qua tựa đề của tác phẩm, Ba chàng lính ngự lâm, thay vì Bốn chàng lính ngự lâm, như nội dung của câu truyện.

Bởi vì Ba chàng lính ngự lâm, Athos, Porthos và Aramis, dù đã chia tay DArtagnan, vẫn vĩnh viễn còn lại trong tâm hồn DArtagnan, cũng như Dumas và độc giả, như là những “biểu tượng về sự kỳ diệu của tuổi trẻ vĩnh cửu, là một sự từ chối thoả hiệp với sự tẻ ngắt của cuộc sống hiện đại, là sự xây tạo vinh quang của tinh thần phiêu lưu bất diệt”. (Wren)

Bổ sung của conmotsach.com:

Các file sách của bộ truyện này có tại các bài: Ba người lính ngự lâm , Hai mươi năm sau  và Mười năm sau nữa để tiện quản lý danh mục.

Nhà giả kim (The Alchemist/ O Alquimista ) – Paulo Coelho

The Alchemist, tác giả Paulo Coelho, lần đầu được xuất bản vào năm 1988, nhưng đã nhanh chóng được liệt vào thể loại modern classic, tương tự như Hoàng Tử Bé, là những tác phẩm được xuất bản gần đây, nhưng những giá trị nhân văn mà nó mang lại đã trở thành kinh điển, và đôi khi vượt xa những giá trị văn chương của tác phẩm.

Ẩn dưới lớp vỏ truyền thuyết, huyền bí và thần thoại về thuật giả kim, khái niệm chính mà tác phẩm mang lại là Personal Legend – (Truyền thuyết Riêng mình) – nói về những ước mơ, những khát vọng trong cuộc sống mà chỉ có tuổi trẻ, hoặc những gì tạo nên tuổi trẻ – mới có thể có được. Theo như tác giả, khi còn trẻ, ai cũng hiểu – một cách vô thức – Personal Legend là gì. Nhưng khi đối mặt với cuộc sống, người ta gần quên, hoặc tạm gác lại vô thời hạn, việc đi tìm Personal Legend đã một thời khát khao.

Câu chuyện nói về một cậu bé chăn cừu, sau một cuộc gặp gỡ với một vị vua cổ đại bí ẩn, đã thực hiện một chuyến hành trình sang Ai Cập để tìm đến Kim Tự Tháp, để tìm đến Personal Legend của riêng mình, để biết được thật sự mình đang khao khát điều gì trong cuộc sống. Cốt truyện khá hấp dẫn và kỳ bí, nhưng như đã nói, giá trị của tác phẩm không dừng lại ở những gì được kể tường minh, mà là những gì người đọc có thể cảm thấy được. Đó là việc lắng nghe trái tim mình, việc tìm hiểu và theo đi những điềm báo (omen) của cuộc sống, và quan trọng hơn hết, giá trị của việc theo đuổi những ước mơ của mình.

Với điều kiện ước mơ đó phải là một Personal Legend, nếu không thì nó chỉ là ảo vọng mà thôi.

Tham khảo bản ebook tiếng Việt tại: http://conmotsach.com/books/paulo_coelho_nha_gia_kim.prc

Tham khảo bản ebook tiếng Anh tại: http://conmotsach.com/books/the_alchemist.prc  expiration of domains . Browrunrefisec

Quyển Sách Rừng Xanh/Mowgli Người Sói (The Jungle Book) – Rudyard Kipling

Trong những trang viết của mình, Pauxtovski đã nhắc đến Rudyard Kipling, bên cạnh những Honore de Balzac, Marxim Gorki hay Hans Christian Andersen.

Đọc Quyển sách Rừng Xanh (The Jungle Book), tác phẩm nổi tiếng nhất của Kipling, người đoạt giải Nobel văn chương năm 1907, ta sẽ hiểu vì sao có sự đánh giá trân trọng này.

Ở Việt Nam, người ta đã tập hợp các truyện ngắn về Mowgli trong Quyển Sách Rừng Xanh để in thành một quyển riêng, lấy tên khá “kêu”: Mowgli Người Sói. Mowgli Người Sói được xuất bản vào thời hầu như tất cả các tác phẩm nổi tiếng ở Việt Nam đều được in bằng một thứ giấy vàng ố có khả năng chuyển dần sang đen tuyền theo năm tháng, vào thời kỳ mà lỗi chính tả là một thứ của hiếm rất khó gặp trên trang in, vào thời kỳ mà mỗi dịch giả dường như hoá thân thành một tác giả thứ hai của tác phẩm, cùng sống, cùng hít thở, cùng cảm nhận không khí và thời đại mà các nhân vật của tác phẩm đang sống. Trên mỗi trang dịch, mỗi câu chữ, người đọc dường như đều cảm thấy rõ công phu và tình cảm của tác giả chảy tràn, gửi gắm.

Ngày nay, cho dù ngay ở những quyển sách dịch được in ấn công phu về mọi mặt (chỉ trừ việc soát lỗi chính tả), được làm cho nổi đình đám trên mạng trước khi ấn bản, hoặc được làm cho nổi đình đám hơn nữa sau khi xuất bản, ta cũng khó lòng bắt gặp những cảm xúc như thế.

Các nhà làm sách ở Việt Nam có lẽ không cần quan tâm gì đến vấn đề bản quyền và toàn vẹn tác phẩm khi rút trích riêng các truyện về Mowgli một cách tự tiện như vậy. Nhưng họ có cái lý của họ. Khi đọc Quyển sách Rừng Xanh, phần I hay phần II, ta chỉ dường như muốn lật nhanh các trang sách đến các truyện về Mowgli. Mowgli, hay đúng hơn là thế giới của Mowgli, chính là linh hồn, là tinh thần của Rừng Xanh Ấn Độ mà Kipling muốn chuyển tải cho người đọc.

Với cốt truyện là một chú bé loài Người lạc loài trong rừng thẳm, cùng sống và cùng đấu tranh sinh tồn với các loài thú để trở thành Chúa Rừng, con người của Mowgli và Rừng của Mowgli có gì khác và có gì hơn so với con người và Rừng của một Chúa Rừng khác, không kém, nếu không muốn nói là hơn, phần nổi tiếng: Tarzan?

Rừng của Mowgli chứa đầy bởi những Khẩu Quyết (Master-word), những lời chúc Cuộc Săn Tốt Lành (Good Hunting), về Bầy (Pack) và Giống Nòi Tự Do (Free People). Đó là khu rừng của luật lệ và của những bài học thiên nhiên, của một thế giới hoang dã được mô tả một cách phi-hoang-dã. So với Rừng của Tarzan, Rừng của Mowgli nhiều nhạc tính của tưởng tượng hơn và bí ẩn hơn, và đồng thời gần gũi hơn và dễ cảm nhận hơn. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà nghiên cứu đã cho rằng Kipling mượn những câu chuyện về Rừng để đưa ra góc nhìn riêng của mình về thế giới loài người ông đang sống.

Và so với con người của Tarzan, con người của Mowgli đã có một sự khác biệt quan trọng: con người của Mowgli đã trở về với thế giới của con người, tự nguyện trong thôi thúc, không có lý do nhưng cũng không cần giải thích. Sự trở về của Mowgli diễn ra vào Mùa Thay Giọng, khi Rừng đang xôn xao và xao xuyến trong Cơn Chạy Mùa Xuân. Sự trở về – hay đúng hơn, sự ra đi – này không khỏi gợi cho chúng ta những câu thơ đã xa về Paustovski. Đưa em đi tất cả thế xa rồi. Ta đã lớn và Paustovski đã chết…

 

Trong những truyện còn lại của Quyển Sách Rừng Xanh, nổi tiếng nhất là câu chuyện về chú chồn anh hùng Rikki-Tikki-Tavi. Câu truyện này đã được dịch ra tiếng Việt, cũng được xuất bản vào cái thời mà sách đen chữ xấu, cái thời mà việc dịch văn mang tính cảm xúc nhiều hơn vật chất. Chỉ có điều, “họ” – vì không thể biết đích xác là ai – đã cắt bỏ những bài hát cuối truyện. Hầu như mỗi nhân vật của Kipling đều có một bài hát riêng của mình. Nhưng có lẽ “họ” cảm thấy không cần thiết phải tốn thêm vài trang giấy cho những thứ khó nhằn và ít liên quan như thế ở thời kỳ gạo châu củi quế. Duckprocracornra Âu cũng là hợp lý, hoặc ít nhất là có lý.

Chỉ có điều, trong số những thứ được truyền tải qua những trang sách, bên cạnh tình tiết xây nên cốt truyện, những dòng chảy thành luồng tư tưởng, những câu chữ nối mạch thành văn chương, những góc nhìn tạo nên nhân sinh quan, những bức tranh tả cảnh để tả tình, vẫn còn có một thứ góp phần quan trọng tạo nên hơi thở của độc giả.

Đó là văn hoá.

[bản tiếng Việt] — [bản tiếng Anh

Những cuộc phiêu lưu kỳ thú của Nam tước Muynkhaoden (The Surprising Adventures of Baron Munchausen) – Rudolph Erich Raspe

Trong ấn phẩm “Chuyện lạ du ký của vua nói khoác” của Nhà Xuất Bản Văn Hoá Dân Tộc, dịch từ bản tiếng Trung của Nhà Xuất Bản Nội Mông, nhân vật chính đã được nhắc đến qua ba tên gọi khác nhau: Minzihausen, Mizihausen, Minjihausen. Không một kết quả nào tìm thấy khi thử tìm kiếm các tên gọi này trên Google. Tìm kiếm theo tên tác giả, A. Laspa, thì lại càng vô vọng.

Cuối cùng tôi phải áp dụng một phương pháp hơi thô thiển nhưng khá hiệu quả: bắt đầu quá trình tìm kiếm bằng tên phiên âm tiếng Việt mà tôi còn nhớ được: nam tước Muynkhaoden. Từ đó ta sẽ truy ra tên tiếng Nga của nhân vật (МЮНХАУЗЕН). satellite map . Và cuối cùng là nguyên tác, The Surprising Adventures of Baron Munchausen, tác giả Rudolph Erich Raspe.

Và đó chỉ là bất ngờ đầu tiên trong quá trình “điều tra” về tác phẩm. Trong khi các tác phẩm Việt hoá chỉ xem nhân vật nam tước Munchausen như một dạng vua nói khoác, một Bác Ba Phi của Đức thì tại phương Tây, nhân vận Munchausen được xem ngang hàng với Robinson Crusoe và Gulliver, những nhân vật của phiêu lưu và trí tưởng tượng, của sự khao khát hiểu biết, văn hoá và chinh phục.

Những ai yêu thích những giá trị trên trong các tác phẩm văn học phương Tây nổi tiếng cận đại và hiện đại sẽ dễ dàng bắt gặp lại những nét quen thuộc trong những cuộc phiêu lưu của Nam tước Munchausen. Mạch văn phong cầu kỳ quý tộc nhưng trang nhã và hài hước gợi nhớ đến những tác phẩm của Alexandre Dumas. Việc nam tước rơi xuống một khe nút ở Hy Lạp để gặp gỡ hai vợ chồng thần linh cổ đại Vulcan (Hephaetus) và Venus (Aphrodite) đã sống khép kín tại đấy hàng ngàn năm giống đến kỳ lạ việc các nhân vật trong truyện Nicholas Flamel chui xuống khu hầm mộ Paris để gặp vị thần chiến tranh Mars đang ngủ sâu. Các chuyến phiêu lưu trên khinh khí cầu và đến Mặt Trăng của Munchausen phải chăng chính là nguồn cảm hứng cho các cuộc phiêu lưu tương tự được Jules Vernes sau này kể lại. browser shots . Thế giới quan (đầy lệch lạc) của những người da trắng dành cho người da đen ở châu Phi và người da đỏ ở châu Mỹ vô cùng tương đồng với những chuyến phiêu lưu của Tintin. Và những cuộc gặp gỡ của nam tước với Sphinx ở Ai Cập hay Don Quixote ở Tây Ban Nha là những nét văn hoá thú vị mà sau này thường thấy gặp trong những chuyến phiêu lưu của các nhân vật truyện tranh nổi tiếng của phương Tây.

Những chuyến phiêu lưu của Munchausen, dù vô cùng kỳ lạ, vẫn chưa ly kỳ bằng câu chuyện đời thực của tác giả, một nhà văn, một nhà khảo cổ nổi tiếng, một tên tội phạm bị truy nã phải lưu vong. Hình tượng Munchaosen, theo như một số nhà nghiên cứu, là một hình ảnh để tác giả phản chiếu chính mình, “một nam tước mà số phận và tài năng vượt hẳn lên nhận thức của những người đương thời.”

Bổ sung của Trần Anh Khôi:

Tham khảo bản tiếng Anh: http://conmotsach.com/books/baron_munchausen.html

Tháng 11/2009 NXB Mỹ Thuật đã có in bản tiếng Việt (có 2 tên sách: Những cuộc phiêu lưu kỳ thú của Nam tước Muynkhaoden / Bà tước Mynkhaoden?), dịch giả Ngọc Khánh.

The Secrets of the Immortal Nicholas Flamel – Michael Scott

Motif về một thế giới từng được xây dựng, phát triển bởi những sinh vật bất tử có quyền năng của thần thánh và sau đó được “chuyển giao” từng bước cho loài người đã dần trở nên phổ biến. Người Elves đã lìa bỏ Middle-Earth trong bộ truyện trường thiên Lords of the Rings, hoặc người Esper từ bỏ thế giới trong trò chơi lừng danh Final Fantasy. Trong series truyện The Secrets of the Immortal Nicholas Flamel của mình, tác giả Michael Scott còn dấn thêm một bước nữa: giống loài Elders, sau khi “nhường” lại thế giới cho loài người, đã một lần nữa quay lại để tìm cách thống trị thế giới, để “biến loài người thành  nô lệ, và hơn thế nữa, thành thức ăn.” Và kể từ đó, sự phát triển của thế giới, bên dưới lớp vỏ được ghi chép lại trong lịch sử của các nền văn minh con người, là một cuộc chiến dai dẳng xuyên hàng thế kỷ giữa các Dark Elders cùng tay sai với các “Elders tốt” hỗ trợ cho sự bảo vệ thế giới của loài người, đại diện là nhà giả kim huyền thoại Nicolas Flamel, một trong số ít người đã tự tìm cách trở thành bất tử mà không cần sự ban phát của giống nòi Elders.

Có thể thấy Michael Scott đã “fantasize” cách tiếp cận của Dan Brown trong The Da Vinci Code: giải thích những gì còn lại của quá khứ, xuyên suốt qua lịch sử và văn hoá, theo một thế giới, một sự thật của riêng mình. Qua hai tập đầu tiên của series truyện, The Alchemyst và The Magician, Michael Scott đã nhúng và hệ thống hoá một cách khéo léo và có hệ thống kho tàng thần thại Hy-La, Bắc Âu và Ai Cập cổ đại cùng các nhân vật lịch sử và huyền sử của Châu Âu vào một câu truyện phiêu lưu chiến đấu hấp dẫn xoay quanh một cặp song sinh nam nữ được nhắc đến bởi một lời tiên tri – lại một motif quen thuộc – rằng sẽ thay đổi hoàn toàn thế giới này.

Cũng như Dan Brown, bên cạnh một cốt truyện gay cấn được đan dệt khéo léo các tình tiết lịch sử – thần thoại, Michael Scott tỏ ra không có gì đặc sắc trong việc xây dựng và phát triển tâm lý nhân vật. Nhân vật chính, Nicholas Flamel, là một kẻ không-tính-cách hoặc, cứ hy vọng thế, tính cách được che đậy khéo léo đến mức không ai có thể cảm nhận được. Việc đưa các nhân vật lịch sử vào truyện có thể là một sự mạo hiểm. Nếu mô tả không đúng “tầm”, các nhân vật này sẽ trở thành bại bút. Joan of Arc là một ví dụ. Sự xuất hiện của the Maid of Orleans chưa xứng với danh tiếng và huyền thoại của nàng. Ấn tượng nhất có lẽ là Scathach, một nữ ma ca rồng tóc đỏ ăn chay hai ngàn năm trăm năm tuổi, là the Warrior, là the Shadow, là người đã đơn thân độc mã quyết định chiến thắng ở Stalingrad cho “phe người tốt”, trước cuộc tấn công của “phe người xấu”.

Nhưng dù sao, đọc Nicholas Flamel vẫn thấy thích và thấm hơn Harry Porter, vì bên cạnh phép thuật, vẫn còn sự xuất hiện của những thanh gươm. Bên cạnh sự huyền bí, vẫn còn đó sự tồn tại của chủ nghĩa anh hùng.

Bổ sung của BQT:

Cuốn Nhà giả kim (The Alchemyst):   [bản tiếng Việt] — [bản tiếng Anh]

Cuốn Pháp sư (The Magician):   [bản tiếng Việt] — [bản tiếng Anh]